13:47 ICT Thứ bảy, 20/04/2019

Trang nhất » Tin Tức » Viết về Trường xưa

Nhớ về Thiên-Hựu Học-Đường

Thứ năm - 24/09/2015 09:29
Nhớ về Thiên-Hựu Học-Đường

Nhớ về Thiên-Hựu Học-Đường

Nhắc đến trường Thiên-Hữu ở Huế, (mà tên chính thức là Thiên-Hựu Học Đường, tên Pháp là l'Institut de la Providence) chúng ta hình dung ngay đến ngôi trường ba tầng đồ sộ, kiến trúc theo kiểu Pháp ở tả ngạn sông Hương, khác với lối kiến trúc cổ-điển quen thuộc tại cố đô

 

  
 
Nhắc đến trường Thiên-Hữu ở Huế, (mà tên chính thức là 
Thiên-Hựu Học Đường, tên Pháp là l'Institut de la Providence) chúng ta hình dung ngay đến ngôi trường ba tầng đồ sộ, kiến trúc theo kiểu Pháp ở tả ngạn sông Hương, khác với lối kiến trúc cổ-điển quen thuộc tại cố đô. Chúng ta cũng nhớ đến các lớp học rộng rãi, cao ráo, và một giảng đường lý hóa tân tiến. Các cậu học sinh nội trú không thể nào quên được phòng étude luôn luôn có nhiều học sinh ngồi học chăm chỉ, yên lặng dưới sự trông coi của một cha giáo sư, cũng như phòng ăn rộng rãi với hai dãy bàn dài với bốn hàng ghế dài, và ở một đầu phòng , một bàn ăn dành cho các cha và giáo sư. Tầng lầu ba của tòa nhà chính (ở giửa) dùng làm phòng ngũ, với các dãy giưòng được sắp xếp ngay hàng thẳng lối. Sân thượng rộng lớn, bằng phẳng, thường được dùng làm rạp chiếu bóng lộ-thiên cho học sinh vào những cuối tuần tốt trời. Ngoài ra, còn một nhà nguyện trang trí thật thanh nhã, mà trong những buổi thánh lể, chúng ta được thưởng thức tiếng đàn harmonium của cha Lefas. Riêng các học sinh yêu thích thể-thao thì không thể nào quên được nhà tập, các sân bóng rổ, quần vợt, và túc cầu, ở đó đội Thiên-Hựu thường xuyên tập dượt trước khi ra đãu giao-hữu với các trường bạn trong vùng như trường Pellerin, Quốc-Học..v...v..
 
Nhưng kỷ niệm về trường Thiên Hữu không phải chỉ có thế, chúng ta chắc không thể quên được các vị linh mục thuộc Dòng Thừa sai Paris ( Société des Missions Étrangères de Paris) đã hy sinh trọn vẹn cả cuộc đời cho việc giáo-dục nhiều thế hệ thanh thiếu niên Việt-Nam. Những vị linh-mục giáo-sư như quý cha Lefas, Massiot, Lemasle, Eb, Quéguinier, Duval, Petitjean, Oxarango, Kermarrec,..luôn luôn là những tấm gương sáng cho chúng ta, không những vì kiến thức sâu rộng, mà còn vì đức-hạnh cao quí, lòng tận-tụy vô biên của các người. Thêm vào đó, còn nhiều vị linh mục người Việt nữa như quí cha Nguyễn Văn Thích, Nguyễn Kim Bính, Nguyễn Văn Hiền, Ngô Đình Thục, Nguyễn Văn Lập, Nguyễn Văn Thuận, Trần Hữu Tôn, vân vân... ngoài ra còn có các giáo sư người Việt như thầy Phạm Ngọc Hương, Hoàng Ngọc Cang, Hà Thúc Chính, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Dương Đôn, Trần Điền, Trần Văn Tuyên, Dương Thiệu Tống, Trương Sĩ Lưu, Tôn Thất Sa, ..., cô Tuân, tức là bà Tôn Nữ An-Lạc,.. đều để lại trong ký ức cựu học sinh nhiều ân tình và kính mến. Chúng ta chắc cũng không quên được nhiều vị linh mục hiệu-trưởng liên tục điều-khiển trường trong hơn bốn thập niên như quí cha Ngô Đình Thục, Dancette, Viry (mà tên Việt là cố Vỵ), Nguyễn Văn Hiền, Trần Hữu Tôn, Nguyễn Tiến Huynh. Riêng đối với các học sinh nội trú, nhiều người còn giữ những ky niệm sâu đậm với thầy Hiển, tổng giám-thị. Chúng ta cũng không thể quên được các 'Sơ' hiền-hoà, như 'Sơ' Valentine và các 'Sơ' khác, dịu dàng chăm sóc từng bửa cơm, đến các học sinh đau ốm, phải nghỉ học và được đưa vào nằm trong bệnh xá.
 
Trường Thiên-Hữu còn nhắc nhở ta nhớ đến không ít các cựu học sinh thành đạt trong nhiều lãnh vực, đã thi thố tài-năng phục vụ cho đất nước, cộng đồng, dù ở trong nước hay ở hãi-ngoại. Chúng ta cũng còn nhớ đến một số bạn cũ lúc cùng học là chủng-sinh, nay là những vị linh-mục đang dẩn dắt giáo-dân ở rải rác khắp các miền đất nước. Nhưng một điều chúng ta nhận thấy là các cựu học-sinh được gắn bó bằng tình thân hữu thắm thiết, ngay từ thời theo học dưới cùng một mái trường. Mối thân tình đó bền bỉ qua bao thử-thách, và vẫn còn sâu-đậm đến những năm cuối của cuộc đời. Đó không đơn-giản là tình bạn, mà còn là tình anh em chí thiết như trong một đại gia-đình, kết chặt nhiều thế hệ với nhau. Như bạn Tăng Kim Lân đã nói trong buổi họp mặt của cựu học sinh Thiên-Hữu ngày 11 tháng Tư năm 1999 tại Saigon vừa qua, đó là tình 'đồng môn', kết hợp với tinh thần 'tôn sư trọng đạo', phù-hợp với đạo ly cổ-truyền của người Việt-Nam.
 
Trên đây chỉ là vài kỷ niệm, suy-nghĩ về ngôi Trường thân yêu mà chúng tôi xin được phép ghi lại với sự đóng góp của vài bậc đàn anh và các bạn Lâm Phát Giang, Trương Thành Tâm và Hoàng Đức Thạc trong ban tổ chức ngày họp mặt các cựu học-sinh Thiên-Hựu tại Santa Ana, California, Hoa Kỳ, ngày 3 tháng 7 năm 1999. Chúng tôi tự xét không có khả-năng nói đầy đủ về Trường cũ. Chúng tôi thiêt nghĩ chỉ có một người có đủ thẩm quyền làm việc nầy, vì cả cuộc đời của Người đã kết chặt với vận-mệnh của Trường. Người đã chứng kiến liên-tục các thăng-trầm của Trường từ ngày phôi-thai cho đến đầu thập niên 1970, cũng như đã và đang theo dõi từng bước tiến của mơi cựu học-sinh do chính tay Người đào-tạo ra. Tên tuổi của Người hầu như được gắn liền với tên Trường. Đó là cha Georges Lefas, Ngài đã được tập-san Tiếng Sông Hương xuất bản ở Dallas, Texas, yêu cầu viết về Trường Thiên-Hữu. Bài viết bằng tiếng Pháp của Ngài đã được tiến sĩ Phan Văn Thính, cựu học-sinh Thiên-Hữu từ 1935 đến 1942, chuyển ngử ra tiếng Việt. Xin mời quy vị đọc hai bài, nguyên tác bằng tiếng Pháp và bản dịch tiếng Việt trích từ tập-san Tiếng Sông Hương trong các trang kế tiếp sau đây.
 
 

Thiên-Hựu Học Đường
 
 Phan Van Thính chuyễn ngữ.
 
      
Cha Georges Lefas (1906-2002)
 
Huế, "cố-đô" của triều Nguyễn, lúc nào cũng long lanh trong hoa lệ, đài các mà chẳng phô trương, duyên dáng mà vẫn kín đáo, thật xứng danh thủ đô của các bậc học bác uyên thâm cũng như các vị đại thần trong triều.
Năm 1932, vị Hoàng đế trẻ tuổi Bảo-Đại vừa tốt nghiệp ở các học đường nổi tiếng của Paris, đăng quang kế vị tiên đế Khải Định.
Từ đó -- đối với chúng ta nay cũng đã quá xa xăm, bộ máy hành chánh của Nam triều song song với chế độ cai trị của người Pháp tại miền Trung, đưa tới kết quả dân số Huế tăng trưởng thêm một tập thể công chức. Trong số nầy, thành phần cao cấp lại gần như là một thế giới nhỏ riêng biệt với những sự tranh dành không sao tránh được trong môi trường chính trị như trông thời đó. Tuy nhiên, trong đối xử, họ vẩn giử được phong độ tao nhã mà không quá ư kiểu cách. Nhận thấy rằng vị tân Hoàng Đế là người Tây học (Paris), còn Nam Phương Hoàng Hậu thì gốc gác Công giáo cổ truyền và thế gia vọng tộc miền Nam, Đức Giám Mục Allys của địa phận Huế nghĩ rằng đây là những sự kiện khích lệ và thời cơ thuận tiện để thành lập một cơ sở học đường Công Giáo tới cấp trung học tại Huế.
Thật ra, dư án này đáp ứng cấp thời điều mong muốn chung của quan lại trong triều cũng như giới người Pháp (công chức và điền chủ) là làm sao có dược tại chổ một nền giáo dục giá trị, khả dĩ bảo đảm cho con cái họ đủ khả năng đảm nhận tất cả các phận sự cấn thiết cho xứ sở, ngõ hầu có thể tự túc tự chủ ở một mức độ phải chăng.
Trong đường hướng đó và với sự ưng thuận kín đáo của nhà đương cuộc Pháp, một dự án Thiên Hựu Học Đường đã được thảo hoạch để thiết lập một trường trung học loại cổ điển rập theo tổ chức giáo dục bên Pháp. Sau khi các Dòng Tu lớn và các đoàn thể giáo dục Công Giáo bên Pháp đâu khước từ không nhận điều khiển công trình này, Đức Giám Mục De Guebriant, lúc đó là Bề Trên Hội Thừa Sai tại Paris (Société des Missions étrangères de Paris) nhận đứng ra thực hiện dự án này, sau chuyến viếng thăm Đông Dương về, năm 1931.
Ngày 15 tháng 9 năm 1933, người kế vị Đức Giám Mục Allys, Đức Cha Chabanon, làm lễ ban phép lành lần đàu tiên, một trong năm cơ sở kiến trúc dự định cho nhà trường tương lai, khai giảng một lớp 6 gồm hai ban, thêm hai lớp dự bị, lớp 7 và lớp 8. Cả ba lớp họp lại 132 học sinh trên tổng số 190 người ghi tên xin học gồm có 115 học sinh Việt Nam, 17 học sinh Pháp, 29 học sinh Công giáo, còn lại 103 học sinh Phật giáo, Khổng giáo và đạo thờ cúng ông bà.
Địa điểm được lựa chọn thật rộng rãi và cao ráo, chạy dọc theo đại lộ Khải Định, gần Tòa Giám Mục và đối diện với tu viện Dòng Chúa Cùu Thế.
Đứng trên nóc hai tầng của tòa nhà chính, chạy dài trên 73 thước, ta có thể nhìn thấy về phía Nam là núi Ngự Bình, dựng lên như một bức bình phong trấn ngữ Đài Nam Giao, nơi hằng năm Hoàng đế đứng chủ đàn các cuộc tế lễ trong cương vị Thiên tử của ngài.
Từ năm 1933 cho tới 1939, thêm bốn tòa nhà nữa được hoàn thành tạo nên một khối kiến trúc vuông vức hài hoà. Người thực hiện là kiến trúc sư - thầu khoán Đinh Doãn Sắc với Cha Douchet làm cố vấn, trừ nhà nguyện đẹp đẽ thanh bai theo kiểu mới do một thân hữu Pháp, kiến trúc sư André Duthoit, đã tặng biếu đồ án.
Vì đất nguyên là đồng ruộng đầm lầy, nên móng phải xây trên một "rừng" tre già, giống đặc biệt không bao giờ mục nát, kỷ thuật xây cất độc đáo ấy sau này chứng tỏ là cực kỳ kiên cố, không bị hư hao gì dưới bao nhiêu trận mưa bom đạn trên kinh đô.
Sự chấp thuận rất là khích lệ của giới chính quyền thể hiện rộng lớn trong buổi lễ khai mạc trường Providence với sự hiện diện của các bậc thân hào, các nhân vật quan trọng như cụ Tôn Thất Hân, nguyên Phụ Chánh Thân Thần, ông Lavigne, Công sứ Đốc thành phố Huế cùng với ông Sogny, Chánh Mật thám; Về phía Giáo hội có Cha Florent Zuchelli, Đại diện Đức Khâm Mạng Tòa Thánh, Đức Giám mục Dreyer (O.F.M).
Về thành phần ban giảng huấn của nhà trường, Đức Cha Chabanon không quản ngại công khó "trưng dụng" các giáo sĩ thông thái nhất trong các vị thứa sai như cha Lemasle (sau này là Giám mục địa phận), các Cha Dancette và Massiot, Cha Nguyễn Văn Thích, một bậc thâm nho và đặc biệt cha Ngô Đình Thục (sau này là Tổng Giám Mục địa phận Huế), về mặt pháp lý là Hiệu trưởng của Thiên Hữu Học Đường vì Cha có bằng cử nhân Triết học.
Ngoài ra còn một số giáo sư không ở trong Giáo hội như các ông Trần Điền (sau này là Thượng Nghị sĩ), Tôn Thất Đàm, Trần Văn Tuyên và đặc biệt ông Tạ Quang Bửu (sau này là Bộ Trưởng Bộ Đại Học của Bắc Việt).
 
Chương trình giáo khoa rập theo mẫu Pháp quốc, giảng dạy tiếng La Tinh ngay từ lớp 6 (một trong hai ban của lớp 6) và tiếng Hy Lạp (lựa chọn, không bắt buộc) bắt đàu từ lớp 4 trở lên. Hai cổ ngữ này được giao phó cho Cha Massiot (La tinh) và Cha Eb (Hy-Lạp). Dĩ nhiên trọng tâm căn bản là Pháp văn, giảng dạy sâu rộng cả ngữ pháp lẫn văn chương.
Trong đường hướng đó, chương trình giáo khoa nặng về "nhân văn" nhưng không phải vì thế nhà trường đặt nhẹ phần toán học, trong quan điểm rằng phải như vậy mới bảo đảm cho học sinh đủ căn bản vững chắc và toàn diện. Thật vậy, nhờ cái vốn học vấn ấy, sau này đa số học sinh đã có thể rộng bề lựa chọn các ngành nghề đủ loại: tư pháp, đại học, y khoa, binh nghiệp và cả tu viện nữa.
Về sau, với thời cuộc đổi thay và nhân tâm biến chuy
Đa số học sinh sau này du học tại Pháp đã thực nghiệm thấy rõ sự hữu hiệu của chương trình giáo khoa vừa hấp thụ được, tốt nghiệp dễ dàng các trường lớn như Polytechnique, Centrale, Cao đẳng Điện học (E.S.E.), Cao học Thương mãi (HEC). . .
Tưởng cần nói thêm là không khí học tập tại Thiên Hữu Học Đường đặt trên nền tảng kỷ luật mà vẫn không kém phần thân mật trong cách đối xử của thầy dạy với học trò, cũng như giữa chúng bạn vơí nhau.
Để diễn tả cái không khí trường Providence hồi đó, không gì hơn là nhường lời cho một cựu học sinh được nhiều người biết và do đó, đã được bầu chủ tạo lễ kỷ niệm 25 năm thành lập Thiên Hữu Học Đường (1958) - bạn Tôn Thất Thiện:
 
(. . . ) Cũng như những năm đi hướng đạo, thời gian học trường "Providence" góp một phần rất lớn trong sự tạo điều kiện cho tôi tiến dễ dàng trên đường đời sau này.
Trường Providence là một "trường Tây" (dạy tiếng Pháp, theo chương trình tú tài Pháp) thành lập năm 1933. Tầm nhìn của những người sáng lập rất rộng, nên ảnh hưởng của trường sau này cũng rất lớn. Trường của Giáo hội Công Giáo và là trường Pháp, tất nhiên cũng có hậu s gây ảnh hưởng cho Công giáo và Pháp. Nhưng, nếu có, thì họ cũng rất kín đáo và nhẹ nhàng, không trắng trợn và gây khó chịu cho người khác. Suốt mấy năm học ở đó (1936-1937 dến 1943-1944) tôi không hề trực tiếp hoặc gián tiếp bị thúc dục "rửa tội" hay "theo Tây".
Trường rất lớn, tiện nghi dồi dào, ban giáo huấn khả kính, lại là trường trung học tư bề thế ở miền Trung. Do đó, trường thu hút học trò không những của toàn miền Trung, mà cả miền Nam, nhất là con em các gia đình Công giáo.
Tuy trường thâu nhận cả học sinh Pháp lẫn Việt, tôi không hề cảm thấy có phân biệt "Tây Nam". Các giáo sư và các cha đối xử học sinh Pháp và Việt rất đồng đều. Có bề bênh học sinh Việt là khác. Ví dụ, khi có đánh lộn giữa học sinh Pháp và Việt, mấy cha thường bạt tai mấy cậu Tây con trước !
(. . . ) Điều thứ hai tôi thấy cần ghi nhận về trường Providence là ở đó tôi được giáo huấn rất kỹ lưỡng, đặc biết về sinh ngữ - Pháp và Anh - Các thầy giáo Pháp cũng như Việt, vừa nhiều khả năng, vừa dạy rất tận tâm chu đáo, vừa nghiêm túc, đòi hỏi nhiều ở học sinh sự cố gắng. Nhờ đó sau này tôi dự thi và theo học các trường đại học lớn của Anh (như London School of Economics), cũng như của Thụy sĩ dễ dàng. . .
 
Như trên đã trình bày, mục đích trước tiên của trường Providence là tuyển dụng một ban giảng huấn có khả năng, phần lớn được gởi tới từ dòng Thừa Sai Paris, thỏa mãn dược ước vọng và nhu cầu các gia đình thượng lưu vùng Đế Đô, cho con cái họ một nền giáo huấn tốt, mở mang trí tuệ tinh thần và đạo đức, hâù sau này có thể gánh vác trách nhiệm của mình khi trưởng thành.
Tất nhiên là nhà trường cũng phải chuyễn mình thích nghi với thời cuộc và những biến cố đã xảy ra cho số phận của đất nước Việt Nam trong những năm từ 1933 cho tới 1975. Trong khoảng 40 năm then chốt đó, có thể phân tích ra nhiều giai đoạn lịch sử như sau:
 
I- 1933-1945: giai đoạn thành lập:
 
Trong giai đoạn này, trào lưu cũng như thời cuộc đưa tới sự đương nhiên, là muốn tiếp tục học sau khi tốt nghiệp Tú Tài, thì phải đi Pháp đ< khai thác cái vốn học vấn đã đạt được.
điềuTại Pháp, phần lớn các môn sinh nhà trường đã thực hiện được toàn diện những điêu ước vọng của mình. Chỉ cần đơn cử ở đây một vài trường hợp đi< vào nghiệp Toà Án, luật sư hoặc là Ngoại Giao. Y, Hoa, Kỳ, một cựu học sinh (cựu thuyền nhân) đã chen chân được vào cơ quan "Tối Mật" của Bộ Quốc Phòng.
Những người khác trong thời kỳ chiên tranh, ở lại trên quê hương mình cũng đã thành công vẻ vang trong binh nghiệp Bộ binh, Hải quân hoặc Không quân.
 
II. 1946-1963: Giai đoạn phát triển.
 
Trong các biến cố đã xoay chuyễn dòng lịch sử Việt Nam, có thể coi vụ Nhật bản đảo chính Pháp là quan trọng vào bực nhất. Khởi đầu thì đó chỉ là sự tất nhiên xảy đến sau sự thất trận của nước Pháp năm 1940 trước kẻ xâm lăng Đức Quốc Xã. Dù thâm ý của người Nhật ra sao đi nữa, biến cố này đã gây ra sứt mẻ, không bao giờ hàn gắn lại được nữa, trong cơ sở cai trị của Pháp tại Đông Dương. Khi nước Đức của Hitler đầu hàng, cuộc diện càng thay đổi hơn, sự thật thì trên cỏi (cựu) Đông Pháp từ nay sẽ không bao giờ trở lại như xưa nữa. Chẳng cần đi sâu vào chi tiết của vụ Pháp trở lại với Tướng Leclerc và kế tiếp là Tướng de Lattre de Tassigny, kết cục tất cả dều tan hoang với sự thảm bại Điện Biên Phủ năm 1954. . .
Trái với sự dự đoán của mổi người, trường Providence đã lướt qua được bao cơn bão tố mà chẳng bị chìm đắm, mặc dầu bao phen thương tích vì trận chiến. Sở dĩ nhà trường được thoát hi< tự đảm đương lấy số phận mình.
Nhờ sự hòa hợp thức thời đó mà sau này các thế hệ học sinh do Trường đào tạo nên, không cần phải lánh thoát ra nước ngoài hay lẩn tránh trách nhiệm, ở lại trong nước, họ vẫn có nhiều cơ hội phục vụ xứ sở đang chuy
đc biệt là sau ngày Tổng Thống Ngô Đình Diệm chấp chánh, một số cựu học sinh trường quen biết trước với nguyên hiệu trưởng, Đức Giám Mục Ngô Đình Thục, đã được trao phó nhiều trách nhiệm trong chính phủ, và họ đã làm việc rất đắc lực, liêm khiết.
Trong giai đoạn này, trường Đại học Công Giáo được thành lập tại Đà lạt, người chủ trì là Cha Nguyễn văn Lập, cựu giáo sư kiêm tuyên uý tại Providence. Ở Huế cha Cao văn Luận đứng ra tổ chức một Đại học Công Lập, cha Luận đã cho mời một số giáo sư Providence ra dạy ở Đại Học Huế, cha Oxarango và cha Lefas đảm trách các phân khoa Văn Khoa và Sư Phạm. Khoa Trưởng Văn Khoa là anh Lê Thanh Minh Châu, cựu học sinh Providence và sau này tốt nghiệp đại học Cambridge, Anh Quốc.
 
III- 1963-95. . . "Sẻ trôi về đâu ?"
 
Cái chết bi đát của Tổng Thống Ngô đình Diệm và 2 người em ,mở đầu cho một giai đoạn "xáo trộn" tại miền Nam, mà Bắc Việt liền khai-triểt để chuẩn bị "thống nhất đất nước" họ hằng mơ ước. Con đường đi tới việc thôn tính nốt miền Nam của chúng, đầy rẫy những thảm kịch như vụ Tết Mău Thân (1968) trong đó 3.000 thường dân vô tội bị tàn sát tập thể, trông số này, tiếc thay có nhiều học sinh thế hệ trẻ của Trường Providence. . .
Cũng trong thời kỳ đó. Một số học sinh Providence đậu xong Tú Tài đã ghi tên vào Đại Học Huế để lấy bằng cử nhân hoặc sư phạm để gia nhập ngành nhà giáo. Trong khuôn khổ đó, có thể coi là trường Providence của chúng ta đã thực hiện được một phấn chí nguyện của các vị sáng lập ra trường khi chọn cái tên Thiên-Hựu Học-Đường (Institut de la Providence). Hiện giờ một số giáo sư văn khoa và ngoại ngữ trong tỉnh Thừa Thiên đều xuất thân và đào tạo từ trường Providence, trong suốt thời gian Trung học.
 
IV- 1975. . .: Chứng minh danh hiệu Học đường
 
20 năm sau "thống nhất" đất nước Việt Nam dưới sự bảo hộ của Hà Nội, một sự ngẩu nhiên đã xui khiến chính quyền Thừa Thiên sử dụng cơ sở trường ốc Providence làm trụ sở phụ cho Đại Học Huế*, dành cho các lớp Cao Học của 3 phân khoa (Sử dịa, Xã hội học và văn hóa tổng quan). Các cơ sở được trông nom và sử dụng thỏa đáng. Riêng căn nhà trước kia là Nhà Nguyện của trường, nay được dùng làm phòng học, ngăn đôi ra bằng một bức màn, để sinh viên tới đó làm bài và học hành trong yên tịnh.
Ngoài ra lại có một số giáo sư ngoại ngữ (trong đó có một phần được đào tạo tại trường Providence) đã tự động mở ra những lớp học buổi tối miển phí dạy Pháp ngữ, có các "cán bộ" thị xã theo học đã có thêm chút chữ nghĩa hộ thân.
Từ xuất điểm đó, họ đã lập ra một hội nhỏ (lấy tên là Cenlet) với sự khuyến khích kín đáo của nhà cầm quyền địa phương, điển hình bằng sự gởi đi tu nghiệp tại Pháp (9 tháng hay lâu hơn) để bổ túc chuyên môn.
Mặt khác, một bộ sách giáo khoa dạy Pháp văn cho người Việt Nam, gồm 12 cuốn đang được biên soạn dưới nhan đề "Tiếng Pháp" do nhà xuất bản Hatier-Didier ấn hành (nay mai sẽ do một nhà xuất bản địa phương phát hành tại Việt Nam). Một số giáo sư soạn giả trẻ đã cọng tác trong dự án này, trong đó có bà Phạm thị Anh Nga, giáo sư tại phân khoa Sư phạm của Đại Học Huế.
Suy gẫm những điều kể trên, người ta không khỏi cảm thấy đó là những sự cố khích lệ Thượng Đế an bài chứng minh cho danh xưng nhà trường do một bậc đại nho, linh mục Nguyễn văn Thích đặt tên từ buổi đàu thành lập : 
Thiên-Hựu Học Đường.

Trích từ : tập san Tiếng Sông Hương (1994), Dallas, Texas, Hoa Kỳ.
 
L’Institut de la Providence à Huế
 
Bài này, cũng như bài dịch ra Việt ngữ, Thiên Hựu Học Đường của Phan Văn Thính, được đăng trên Tạp San Tiếng Sông Hương ở Houston Texas năm 1995, và được phổ biến trong buổi họp của chs Thiên Hựu ngày 3 tháng 7 năm 1999 tại Westminster, California. Bài cũng được đưa lên mạng ThiênHựu.org. Nay mạng này đã ngưng họat động. Chúng tôi đăng lại bài này theo yêu cầu của một số cựu học sinh Thiên Hựu.
 
Huế, l’ancienne capitale impériale de la dynastie Nguyễn, toujours vibrante d’un faste sans ostentation et d’un charme discret, conserve sa réputation de ville des lettrés et des hauts mandarins de la Cour. Dans les années 30, le jeune Empereur Bảo Đại, frais émoulu de ses études dans les meilleurs établissements de Paris, avait été intronisé, comme digne successeur de S.M. Khải Định.
A cette époque, déjà lointaine – les rouages de l’administration impériale, jumelée avec ceux de la présence française en Annam, peuplaient la cité d’un monde de fonctionnaires haut-placés qui formaient un microcosme original où les inévitables intrigues des milieux politiques cédaient le pas à une courtoisie raffinée, doublée de rapports “bon-enfant”.
L’éducation parisienne du jeune Empereur jointe aux traditions chrétiennes de son illustre épouse, S.M. Nam Phương, issue de l’élite de la socíeté Saigonnaise, parurent, aux yeux de Mgr Allys, le Vicaire apostolique du lien des circonstances encourageantes, pour la fondation d’un établissement secondaire catholique.
Ce projet répondait, en effet, au désir commun du milieu mandarin et de celui des fonctionnaires et des colons français, de trouver sur place l’instruction et l’éducation de haut niveau, capables d’assurer à leur progéniture l’accès à l’éventail des fonctions dont le pays avait besoins, pour s’assurer une autonomie convenable.
C’est ainsi qu’avec la discrète approbation de l’Administration française, fut mis au point le projet de la fondation de l’Institut de la Providence, établissement d’enseignement secondaire, du type classique, calqué sur ceux de la métropole.   
Les grands ordres religieux et les congrégations enseignantes ayant décliné l’offre de présider à cette fondation, Mgr de Guebriant, alors Supérieur de la Société des Missions Étrangères de Paris, accepta de relever le défi de sa réalisation, lors de sa visite en Indochine, en 1931.
Dès lors, le successeur de Mgr Allys, Mgr Chabanon allait pouvoir procéder à la bénédiction solennelle du premier des cinq bâtiments du futur établissement, en ouvrant, le 15 Septembre 1933, une classe de 6ème, à 2 sections, complétée par les 2 classes préparatoires de 7ème et de 8ème . Le tout comportait 132 élèves, sur les 190 qui s’étaient présentés. Dans ce nombre, on comptait 17 français pour 115 vietnamiens, parmi lesquels se trouvaient 28 catholiques, à côté des 103 Confucéens, adeptes en famille du Culte des Ancêtres.
L’emplacement choisi était spacieux et aéré, se situant en bordure de l’ancienne avenue Khải Định, non loin de l’évêché et presque en face du couvent des Rédemptoristes canadiens.
De la terrasse qui surplombait les deux étages de cet immeuble central, de 73 mètres de long, on apercevait, au Sud, la colline du “Ngự Bình”, dite “Écran du Roi”, dressée comme un paravent tutélaire pour protéger “l’Esplanade des Sacrifices”, le Nam Giao où S.M. l’Empereur accomplissait périodiquement les rites traditionnels de ses attributs de “Fils du Ciel”.
De 1933 à 1939, quatre autres bâtiments disposés à l’équerre, allaient successivement compléter cet ensemble harmonieux, construit sur les plans de l’architecte-entrepreneur Đinh Doãn Sắc – conseillé par le R.P. Douchet, sauf pour la chapelle, élégante et moderne, dont les plans avaient été gratuitement fournis par un architecte ami de France André Duthoit. Le sol de cet emplacement rizicole étant marécageux, c’est sur une forêt de bambous imputrescibles que reposent les constructions selon une technique originale qui allait faire ses épreuves de solidité, lors des futurs bombardements de la capitale impériale.
L’approbation stimulante des milieux officiels s’était largement manifestée, à la cérémonie de l’inauguration, par la présence des personalités, telles S.E. Tôn Thất Hân, ancien Régent de la Cour, et du côté français, le Résident Supérieur Lavigne, assisté du chef de la Sûreté, Sogny, et pour les écclésiatiques, du R.P. Florent Zuchelli, représentant le Délégué apostolique  Mgr Dreyer (O.F.M.).
Pour le personnel enseignant de l’établissement, Mgr Chabanon n’avait pas lésiné, faisant appel aux plus doués de ses missionnaires, à savoir: le R.P. Lemasle (futur Vicaire apostolique), les Pères Dancette et Massiot, ainsi que le R.P. Nguyễn Văn Thích (un fin lettré, converti) et surtout, le R.P. Ngô Đình Thục (futur archevêque de Huế) à qui sa licence de Philosophie permettait d’être le Directeur légal de l’Institut de la Provedence.
Divers professeurs « laïcs », complétaient l’équipe, tels que MM. Trần Điền (futur Sénateur), Tôn Thất Đàm, Tuyên, sans oublier Mr Tạ Quang Bửu (futur Ministre de la Jeunesse à Hà Nội).
L’enseignement, aligné sur celui de la métropole, comprenait dès la 6ème, l’étude du latin (dans l’une des 2 sections), de même qu’il allait compléter, en 4ème, celle du Grec (facultatif). Ces disciplines furent enseignées avec maestria par le R.P. Massiot, aidé de quelques autres. Bien sûr, l’accent était mis sur l’étude approfondie de la langue française, dans sa syntaxe et sa littérature.
Ainsi, ce programme se trouvait – sans négliger les mathématiques – plutôt axé sur les “humanités”, retenues comme le gage d’une formation solide et universelle. De fait, cela allait permettre à bon nombre d’élèves d’entreprendre les carrières les plus variées: juridique, universitaire, médicale, militaire, voire sacerdotale.
Plus tard, avec l’évolution des circonstances et des mentalités, l’accent sera davantage mis sur les sciences mathématique et physique, sous la direction savante du R.P. Duval, entré à l’Institut de la Providence, après son expulsion de la Chine communiste, ainsi qu’avec la compétence du R.P. Oxarango, cumulant une licence ès Lettres, avec des talents de physicien et de cinéaste, fort appréciés de ses élèves. Beaucoup de ceux-ci en témoigneront, une fois arrivés en France et après s’être munis, sans trop de peine, des diplômes des grandes écoles : Polytechnique, Centrale, Ecole Supérieure d’Electricité, ou H.EC., etc.
Précisons que l’atmosphère de l’Institut de la Providence était faite du respect de l’ordre, tempéré par une sorte de familiarité dans les rapports  maîtres-élèves et entre camarades.
Comment en donner une meilleure idée qu’en cédant la plume à celui des anciens élèves que sa notoriété avait déjà désigné pour présider en 1958 le 25ème anniversaire de la fondation de l’Institut de la Providence, Mr Tôn Thất Thiện?
Après avoir rappelé ses débuts à l’Ecole Paul Bert, il brosse, avec humour un tableau de ses années “de la Providence”.
 (…) Comme mes années de scout, mes années d’élève à la Providence ont, dans une très grande mesure, contribué à me rendre apte à avancer plus tard, sans difficulté et d’un pas ferme dans les études que j’allais entreprendre et sur le chemin de la vie.
L’Institut de la Providence, crée en 1935, était une école “Tây” (1)  (enseignant le français et applicant le programme d’enseignement préparant au baccalauréat métropolitain). Les fondateurs de l’établissement eurent une vision très large: c’est pourquoi l’influence que l’école allait exercer plus tard fut très grande. L’école relevait de l’Eglise catholique et était une école française; elle avait donc, forcément, pour arrìère-pensée de promouvoir le catholicisme et la France. Mais, en l’occurrence, on fut très discret et très subtil, ne se livrant à aucun prosélytisme de nature à gêner quiconque. Pendant toute la durée de mes études à la Providence, de l’année scolaire 1936-1937 à l’année scolaire 1943-1944, je n’ai jamais subi, ni directement, ni indirectement, la moindre pression tendant à m’amener à recevoir le baptême ou à “suivre les Tây”.
C’était un grand établissement doté d’un corps enseignant digne de respect. C’était en outre une école secondaire privée, influente, du Centre Việt Nam. De ce fait, l’école attirait des élèves non seulement du Centre Việt Nam tout entier, mais aussi du Sud, en particulier parmi les enfants des familles catholiques.
Bien que l’école accueillît en même temps des élèves français et des élèves vietnamiens, je n’ai jamais resenti la moindre discrimination par rapport aux élèves français. Les professeurs et les pères faisaient preuve d’une parfaite équité à l’égard des uns et des autres.
Peut être avaient-ils plutôt tendance à prendre la défense des élèves vietnamiens. Aussi, lorsqu’une bataille opposait des élèves français à des élèves vietnamiens, souvent les pères administraient une gifle aux français d’abord, avant de l’administrer aux vietnamiens.
(…) La seconde remarque que je tenais à faire à propos de la Providene, c’est que j’y ai reçu une instruction très sérieuse, en particulier en matière de langues vivantes – français et anglais. Les enseignants, français comme vietnamiens, avaient une grande compétence et enseignaient avec conscience et attention, tout en étant sévères, exigeant de leurs élèves un grand effort (2).
 On le voit, l’Institut de la Providence s’était proposé avant tout, de mettre un corps professorat, issu, en grande partie, du clergé missionnaire, au service de l’élite de la capitale impériale, afin de donner à ses enfants une formation intellectuelle et morale, capable de les préparer aux responsibilités qui les attendaient, à leur majorité.
Bien entendu, cet établissement a dû s’adapter aux événements qui ont pesé sur les destinées du Việt Nam, entre les années 1933 et 1975. Au cours de ces quelques quarante années cruciales, on peut distinguer plusieurs étapes
historiques.
I- 1933-1945 : Période de fondation.            
Dans ces débuts, la mode et la force des choses tendaient à postuler le prolongement des études conduisant au baccalauréat, par celles dont le départ pour la France permettrait d’espérer bénéficier. Or, pour beaucoup de ces élèves, ces espoirs allaient être pleinement comblés. En voici des exemples concrets: l’un d’eux - polytechnicien – prendra l’adjudication de deux tronçons d’autoroute en France. D’autres ingénieurs E.S.E. travailleront à la C.I.I. ou à l’E.D.F. Un autre choisira la Météorologie et deviendra spécialiste des Pays de Mousson. D’autres s’orienteront, par le Droit, vers la magistrature, le barreau ou la diplomatie. Aux Etats-Unis, l’un d’eux - “boat people” réfugié politique – réussira à se glisser dans les services de la Défense “top secret”. Enfin, pendant la guerre, d’autres, restés sur place, s’illustreront dans l’armée de terre, la marine ou l’aviation de chasse.
ỊI- 1946-1963: Période d’épanouissement.
Parmi les événements qui ont ébranlé le cours des choses, au Việt Nam, le “Coup de Force Japonais” du 9 Mars 1945 compte au premier chef: d’abord en guise de contre-coup de la défaite française de 1940, en face de l’agresseur Nazi. Quelles qu’aient été les visions du Japon, une cassure s’était produite, dans le dispositif de l’Administration française, en Indochine (ralliée, bon gré mal gré, à la cause du Maréchal Pétain). Tout sera remis en question, à la suite de la capitulation de l’Allemagne hitlerienne; mais rien ne sera plus comme avant, dans l’ancienne Indochine française. Sans entrer dans les détails du retour de la présence française, avec le général Leclerc et, plus tard, le Maréchal de Lattre de Tassigny, tout finira par craquer, au désastre de Điện Biên Phủ (1954)…
Cependant, contre toute attente, l’Institut de la Providence traversait ces orages, sans sombrer, en dépit des blessures périodiques de la guerre.
L’établissement surnageait, parce qu’il s’adaptait souplement à l’évolution des mentalités et à la marche irrésistibles vers une indépendance, trop longtemps marchandée à ce pays, mûr pour la prise en mains de ses destinées.
Cette adaptation valut, sans doute, aux générations d’élèves que formait l’Institut de la Providence, de trouver sur place, sans chercher à s’évader, ni à esquiver leur responsibilités, des occasions de se mettre au service de leur patrie en pleine mutation.
En particulier, l’accession au pouvoir du Président Ngô Đình Diệm (1954-1963) permet à un certain nombre d’anciens élèves de l’Institut de la Providence, connus de Mgr Ngô Đình Thục, d’être appelés à des fonctions gouvernementales qu’ils exerceront, avec compétence et probité.
Au cours de cette période, une Université catholique fut fondée à Đà Lạt et fut dirigée par le R.P. Nguyễn Văn Lập, un ancien professeur et aumonier de l’Institut de la Providence. Tandis que, à Huế, était fondée une Université d’Etat, dirigée par le R.P. Cao Văn Luận. Celui-ci fit appel à des professeurs de l’Institut de la Providence, comme les pères Oxarango et Lefas pour y assurer des cours, dans les Facultés des Lettres et de Pédagogie. En outre, la fonction de doyen de la Faculté des Lettres fut confíée à un ancien élève de la Providence, Mr Lê Thanh Minh Châu dont les diplômes avaient été acquis aux Etats-Unis.
III-1963-1975: “Vogue la Galère!”      
La bien triste disparition du Président Ngô Đình Diệm et de ses frères inaugura une période de confusion au Sud Việt Nam dont le Nord Việt Nam allait tirer parti, pour préparer la “Réunification” dont it rêvait. La réalisation de ces projets de mainmise sur le Sud fut entachée d’événements parfois tragiques comme celui du fameux Tết Mậu Thân (fév. 1968) qui donna lieu, à Huế, à une hétacombe de quelque 3000 victimes civiles dont – hélas – plusieurs jeunes élèves de la Providence.
Néanmoins à cette époque, un bon nombre d’anciens élèves, bacheliers de           
l’Institut de la Providence, entraient à l’Université de Huế, pour y préparer une licence ou un diplôme de Pédagogie, leur ouvrant la carrière du professorat. Ainsi, notre établissement remplissait une partie des ambitions de ses Fondateurs, traduites par ce titre d’Institut.
Dès lors, une partie des actuels professeurs de Lettres et de Langues vivantes de la Province de Thừa Thiên ont été formés, depuis leurs années de Secondaire jusqu’à l’Université, par leur professeur de l’Institut de la Providence.
IV- 1975… :Justification finale du titre d’Institut.
De nos jours, vingt ans après la “Réunification” du Việt Nam sous l’égide du Gouvernement de Hà Nội, il se trouve que les bâtiments de l’ancien Institut de la Providence ont été, heureusement utilisés par l’Administration Provinciale, comme “annexe” de l’Université de Huế, pour y distribuer l’enseignement supérieur de 3 Facultés (Histoire et Géographie - Science Sociale -  et Culture Générale). Les locaux bien entretenus ont été judicieusement employés. C’est ainsi que l’ancienne chapelle dont le “chœur” a été isolé par un immense rideau de couleur pourpre, sert de salle d’étude, ouverte aux étudiants qui y travaillent dans un silence receuilli…
De surcroit, on note avec intérêt qu’un bon groupe de professeurs de Langue vivantes, formés partiellement par les anciens professeurs de l’Institut de la Providence, ont pris sur eux d’inaugurer bénévolement des “cours du soir” de langue française destinés, notamment, à des “cadres” de la ville désireux d’ajouter cette “corde à leur arc”.
Ils ont ainsi formé une petite association (le Cenlet), discrètement encouragée par les autorités officielles, comme le montre l’envoi de plusieurs d’entre eux, en France, pour y suivre des stages (de 9 mois ou davantage) en vue de leur perfectionnement professionnel.
Un manuel d’enseignement du français aux Vietnamiens est prévu en 12 tomes et intitulé “Tiếng Pháp” édité par Hatier-Didier (et prochainement diffusé par une maison d’édition au Việt Nam). Il a bénéficié du concours de plusieurs jeunes professeurs Vietnamiens, parmi lesquels se trouve Mme Phạm Thị Anh Nga qui enseigne à la Faculté de Pédagogie de l’Université de Huế.
Comment ne pas voir, dans ces faits encourageants, la justification “providentielle” du titre, donné dès le début, à l’Institut de la Providence par le fin lettré qu’était le R.P. Nguyễn Văn Thích: “Thiên Hựu Học Đường” (3)
 G. Lefas, MEP      
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 
(1) Tây: Littéralement “Occidental”, terme à connotation péjorative utilisé à la place du terme “français”.
(2) Ce témoignage est extrait de la revue “Tiếng Sông Hương” 1994, traduit par Mr Trương Bửu Khánh.
(3) Thiên Hựu: Le Ciel protège. 

Tác giả bài viết: Phạm Nguyên Hanh

Nguồn tin: Cựu Học Sinh Thiên Hựu

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn