17:59 ICT Chủ nhật, 16/06/2019

Trang nhất » Tin Tức » Đất nước - Con người » Quê hương

Cầu Ngói Thanh Toàn

Thứ ba - 13/09/2016 18:20
Kiệt tác kiến trúc tuy quy mô khiêm tốn nhưng đậm đà phong cách bản địa chính là thắng tích quý hiếm mà tiền nhân muốn lưu truyền mãi nghìn năm…



Nằm cách trung tâm thành phố Huế chừng 8km về hướng Đông, cầu ngói Thanh Toàn là một tác phẩm kiến trúc nhỏ nhắn xinh xinh từng xuất hiện 226 năm về trước. Đó là cây cầu gỗ dài 16,85m, rộng 4,63m, chia làm 7 gian, sàn lát ván, phía trên lợp ngói ống tráng men xanh lục. Hai bên cầu có hai dãy bục gỗ dành cho khách bộ hành tạm nghỉ chân hoặc dân sở tại ra ngồi hóng mát. Phần lớn cấu kiện của công trình đều dùng các loại danh mộc, với nhiều chi tiết được chạm trổ tinh xảo và sơn son. Trên cầu còn lưu lại bao thơ phú, câu đối chữ Hán do các bậc tao nhân mặc khách "vang bóng một thời" cảm tác. Chẳng hạn:

Tế xuyên mâu bửu phiệt 
Thanh thủy thắng hồng lâu

Tạm dịch:

Qua sông là bè quý 
Nghỉ mát ấy gác son

Cầu uốn mình cong cong, nối liền đôi bờ con hói chảy ngang làng Thanh Thủy, xã Thủy Thanh, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Nguyên xưa, làng mang tên Thanh Toàn, thuộc địa bàn huyện Phú Vang (tên cũ là Tự Vang), đến niên hiệu Minh Mệnh XXV (1834) mới chia tách qua huyện Hương Thủy. Làng được khai cảnh bởi 12 vị tộc trưởng gốc Thanh Hóa vào Thuận Hóa theo chúa Tiên (Nguyễn Hoàng) hồi thế kỷ XVI. Một trong 12 tộc ấy có người cháu gái đời thứ 6 là Trần Thị Đạo kết hôn với Cần Chánh điện Đại học sĩ, bậc quan đầu triều dưới thời vua Lê Hiển Tông (trị vì từ năm 1740 đến năm 1786, lấy niên hiệu Cảnh Hưng). Thời đấy, việc giao thông trong làng bị cách trở vì con hói. Mỗi khi cần qua lại, dân chúng phải "lụy" đò ngang, khá phiền phức. Thấy vậy, bà Trần Thị Đào bèn tự bỏ tiền riêng thuê thợ lành nghề về tạo dựng cây cầu này để dâng tặng quê hương. Việc thi công diễn ra vào năm Bính Thân 1776 niên hiệu Cảnh Hưng XXXVII. Cuối năm đó, biết được nghĩa cử cao đẹp kia, nhà vua ban sắc khen. Làng Thanh Thủy trân trọng giữ gìn văn bản này; và năm 1917, công sứ Pháp Richard Orban đã giới thiệu nội dung sắc chỉ của hoàng đế Cảnh Hưng trên Bulletin des Amis du Vieux Huế (BAVH: Tập san Đô Thành Hiếu Cổ). Đây là bản dịch của Đặng Như Tùng, trích từ tập IV bộ sách Những người bạn cố đô Huế do NXB Thuận Hóa ấn hành năm 1998:

Chiếu chỉ:

"Bà Trần Thị Đạo, chánh quán làng Thanh Toàn, huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong, là vợ của Khâm sai chủ sự Hoàng cung. Tổng chỉ huy bộ binh và thủy binh, Tổng đốc của ba huyện Hương Trà, Phú Vang và Quảng Điền, Nhất trụ triều đình và tước Hầu.

Bà này làm phước đức còn hơn các bà trong Đại Nội. Đời bà được mọi người khen. Danh tiếng của bà không lời ca tụng nào xứng. Bà không ngần ngại vượt qua bao mệt nhọc để theo đuổi các cuộc hành trình cùng với đoàn của vua. Bà đã dũng cảm làm tròn ba nhiệm vụ của phái nữ. Bà còn để lại cho làng bà nhiều ơn huệ mà người ta cần lưu niệm.

Dân làng được miễn các dịch vụ như sau: miễn cung cấp nhân công để bảo tồn lăng tẩm vua chúa và đền miếu; miễn động viên lính thủy, lính bộ; miễn trưng dụng thuyền bè, tuyển nài cắt cỏ cho voi ngựa ăn, tiều phu, thợ mộc đóng thuyền. Nói tóm lại, họ không phải đóng góp gì về các dịch vụ bắt buộc nào cả. Họ chỉ lo cho chăm sóc cầu, con suối (hói?) chảy qua và các con đường dẫn đến.

Chiếu sắc này nhằm mục đích nêu lên khen ngợi của triều đình đối với người đã xây dựng nên cầu này và để khuyến khích người khác nên tỏ lòng rộng lượng như bà.

Làng này sẽ biết bao sung sướng và tự hào là xứ sở của người đàn bà đáng kính trọng cao cả!"

Vậy là có thể nói rằng cầu ngói Thanh Toàn là món quà đầy ý nghĩa của một nữ lưu đã cống hiến quốc dân đồng bào từ hơn 2 thế kỷ trước.

Sách "Cố đô Huế đẹp và thơ" của nhiều soạn giả (NXB Thuận Hóa, Huế, 1995) cho rằng năm Ất Sửu 1925, vua Khải Định lại truy tặng bà Trần Thị Đạo danh hiệu "Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò" và hạ lệnh cho dân làng lập bàn thờ bà ngay trên cầu. Cùng với bàn thờ ở gian giữa cầu ngói Thanh Toàn, bà còn có am riêng trong khuôn viên nhà thờ họ Trần cũng tại làng này.

Đoạn trên, chúng tôi có trưng dẫn một tài liệu nhắc chuyện năm Ất Sửu 1925, vua Khải Định hạ lệnh cho dân làng lập bàn thờ bà Trần Thị Đạo ngay trên cầu. Tìm hiểu mới tỏ: trước đó khá lâu, quần chúng ở địa phương từng thiết miếu thờ bà chính giữa cầu để bày tỏ lòng tri ân vào năm Canh Thân 1860, đời vua Tự Đức. Khi hương án lập xong, Tùng Thiện Vương Miên Thẩm (1819-1870) ghé viếng và đề thơ Ngõa kiều (cầu ngói):

Ngõa kiều, kiều hạ thủy sàn sàn, 
Ý hạm nga thi nhĩ tự nhàn 
Lão cảnh nan vong duy hãn mặc, 
Thế duyên bất yếm thị khê san. 
Thanh phong tiêu sái giang thuyên chuyển 
Quả phụ chưng thường miếu bán gian 
Hà ý tế nhân tâm nhược bối, 
Lâm lưu vô hạn thảng suy nhan.

Trong nội san Hương Thủy - đất nước, con người số 1-1992, Nguyễn Thanh Thọ chuyển bài thơ sang thể lục bát:

Dưới cầu nước chảy lững lờ, 
Tựa cầu thi khách ngâm thơ thư nhàn,
Bút nghiên đeo đẳng thân mòn,
Duyên đời chưa chán bởi còn nước non.
Hây hây gió thổi sông vờn,
Miếu thờ quả phụ chập chờn khói hương.
Sống riêng ta nghĩ thẹn thuồng,
Mặt soi dòng nước, buồn tuôn theo dòng.

Từ ngày ra đời đến nay, cầu ngói Thanh Toàn đã trải qua lắm phen tu sửa, phục chế. Phần kiến trúc, do đó cũng thay đổi ít nhiều nếu đối chiếu nguyên trạng.

Niên hiệu Thiệu Trị thứ IV (1844), một trận lụt lớn đã khiến cầu bị hư hỏng nặng. Mãi 3 năm sau, tháng 3-1847, cầu mới được sửa chữa. Sự việc ấy cũng được dân làng khắc vào cột cầu để ghi nhớ.

Trận bão "kinh hồn táng đởm" năm Giáp Thìn 1904 đã phá sập chiếc cầu lịch sử. Dân làng Thanh Thủy quyết định tái tạo di tích theo mẫu cũ, nhưng thu hẹp bớt kích thước. Theo Richard Orban (tlđd), cầu cũ dài 18,75m, rộng 5,82, còn cầu mới tương đương kích cỡ như ta thấy hiện nay. Cũng theo R. Orban, lần ấy dân làng tự nguyện đóng góp được 700 đồng và Chính phủ bảo hộ tài trợ thêm 250 đồng. Việc xây dựng đến năm Bính Ngọ 1906 thì hoàn tất.

Xem bức tranh ký họa của ông Trần Đình Nghi (cháu bà Trần Thị Đạo) mà R. Orban cho đăng trong BAVH năm 1917, chúng tôi đoán định rằng giai đoạn đó người ta chưa đưa vật liệu xi măng cốt thép làm cổng hai đầu cầu. Hạng mục này có lẽ xuất hiện vào lần tu sửa cầu năm 1956 và để "cổ kính hóa" phần nào, cánh "thợ kép" đã phải dụng công tô đắp lẫn khảm sành sứ các họa tiết như hoa lá, con dơi, hoặc hoành phi cùng đối liễn chữ Hán… nhại mấy motif trang trí truyền thống.

Năm 1990, cầu lại được nhân dân và chính quyền địa phương trùng tu. Ngày 23/9/1991, lễ hoàn công diễn ra đồng thời với lễ đón bằng công nhận cầu ngói Thanh Toàn là Di tích văn hóa - lịch sử quốc gia do Bộ văn hóa trao tặng.

Thượng tuần tháng 11/1999, ngay sau "cơn lũ thế kỷ XX" ào ạt tàn phá cố đô, chúng tôi kịp thời về Huế. Mấy người bạn đồng hương Huế từ các tỉnh xa điện nhắn:

- Cố gắng tranh thủ ghé coi cầu ngói Thanh Toàn có bị hề hấn chi không!

May thay! Dù mấy ngày ngập chìm dưới làn nước bạc, cầu vẫn trụ vững qua đợt thủy tai khủng khiếp!

Kiệt cấu thiên thu truyền thắng tích…

Vâng. Kiệt tác kiến trúc tuy quy mô khiêm tốn nhưng đậm đà phong cách bản địa chính là thắng tích quý hiếm mà tiền nhân muốn lưu truyền mãi nghìn năm…


 

Tác giả bài viết: Bùi Đẹp

Nguồn tin: internet

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn